1 Samuel 4:21 — Compare Translations

7 translations compared side by side

Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt 1925)
Nàng đặt tên cho đứa trẻ là Y-ca-bốt, vì nàng nói rằng: Sự vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên; nàng nói ngụ ý về sự mất hòm của Ðức Chúa Trời, về sự chết của ông gia và chồng mình.
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
Bà đặt tên cho đứa trẻ là I-ca-bốt và nói, “Vinh hiển đã lìa khỏi I-sơ-ra-ên!” vì Rương của Đức Chúa Trời đã bị đoạt mất và vì cha chồng và chồng của bà đều đã chết.
Vietnamese 1994 (Lời Chúa Cho Mọi Người) (Translated by 1 Pastor)
Nàng gọi đứa trẻ là I-kha-vốt, và nói : Vinh quang đã bị cướp khỏi Ít-ra-en, vì Hòm Bia Thiên Chúa đã bị chiếm đoạt, vì cha chồng và chồng nàng đã chết.
Vietnamese 2002 (NVB) (Kinh Thánh Bản Dịch Mới)
Chị gọi tên đứa bé là Y-ca-bốt, có nghĩa là “vinh quang của Đức Chúa Trời đã rời hỏi Y-sơ-ra-ên,” ngụ ý muốn nói về rương giao ước của Đức Chúa Trời bị cướp mất, và về sự chết của ông gia và chồng chị.
Vietnamese 2010 (VIE) (Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010)
Nàng đặt tên cho đứa trẻ là Y-ca-bốt, vì nàng nói: “Vinh quang đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên!”; nàng ngụ ý về việc mất Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, và về sự chết của cha chồng và chồng mình.
Vietnamese Contemporary 2015 (Kinh Thánh Hiện Đại)
Nàng đặt tên cho con là Y-ca-bốt (nghĩa là “Vinh quang ở đâu?”), vì nàng nói: “Vinh quang của Ít-ra-ên không còn nữa!” Nàng đặt tên con như thế vì Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đã bị cướp và cả ông gia lẫn chồng cũng qua đời.
Vietnamese ERV (Thánh Kinh: Bản Phổ thông)
Nàng đặt tên cho đứa bé là Y-ca-bốt vì nàng bảo, “Vinh hiển của Ít-ra-en đã mất rồi.” Nàng nói vậy vì Rương Giao Ước của Thượng Đế đã bị cướp mất và cha chồng cùng chồng nàng đã chết.