Exodus 14:20 — Compare Translations

7 translations compared side by side

Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt 1925)
trụ mây đứng về giữa khoảng trại người Ê-díp-tô và trại dân Y-sơ-ra-ên, làm áng mây tối tăm cho đàng nầy, soi sáng ban đêm cho đàng kia; nên trọn cả đêm hai trại chẳng hề xáp gần nhau được.
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
Trụ mây án ngữ giữa đội quân Ai-cập và đội ngũ I-sơ-ra-ên. Cùng một trụ mây ấy mà bóng tối bao phủ mịt mù bên này và ánh sáng tỏa rạng thâu đêm bên kia. Vì thế suốt đêm không ai bên này xáp lại gần bên kia được.
Vietnamese 1994 (Lời Chúa Cho Mọi Người) (Translated by 1 Pastor)
chen vào giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Ít-ra-en. Bên kia, mây toả mịt mù, bên này, mây lại sáng soi đêm tối, khiến cho hai bên suốt đêm không xáp lại gần nhau được.
Vietnamese 2002 (NVB) (Kinh Thánh Bản Dịch Mới)
và án ngữ giữa đạo quân Ai-cập và đạo quân Y-sơ-ra-ên. Suốt đêm ấy, trụ mây che một phía làm cho bị tối tăm nhưng lại chiếu sáng cho phía bên kia, vì vậy cả đêm hai đạo quân không thể đến gần nhau.
Vietnamese 2010 (VIE) (Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010)
đứng giữa trại quân Ai Cập và trại quân Y-sơ-ra-ên. Áng mây làm cho bên nầy bị tối tăm nhưng bên kia được soi sáng nên suốt đêm hai bên không tiến gần nhau được.
Vietnamese Contemporary 2015 (Kinh Thánh Hiện Đại)
đứng án ngữ giữa trại Ít-ra-ên và trại Ai Cập. Suốt đêm đó, trụ mây đứng che bóng, làm cho người Ai Cập bị tối tăm, nhưng lại rọi sáng cho người Ít-ra-ên. Vì thế hai bên không đến gần nhau được.
Vietnamese ERV (Thánh Kinh: Bản Phổ thông)
Nên trụ mây đứng giữa dân Ai-cập và dân Ít-ra-en, khiến cho phía Ai-cập thì tối mà phía dân Ít-ra-en thì sáng, và suốt đêm ấy trụ mây phân cách hai đoàn quân.