Isaiah 56:10 — Compare Translations
7 translations compared side by side
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt 1925)
Những kẻ canh giữ của Y-sơ-ra-ên đều là đui mù, không biết chi hết. Chúng nó thảy đều là chó câm, chẳng biết sủa, đều chiêm bao, nằm sóng sượt, và ham ngủ;
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
Những kẻ canh giữ nó đều đui mù cả rồi; Cả bọn đều chẳng biết gì; Chúng như bọn chó câm, Không biết sủa, Mơ mơ màng màng, nằm lên nằm xuống, Và mê ngủ.
Vietnamese 1994 (Lời Chúa Cho Mọi Người) (Translated by 1 Pastor)
Những người canh gác Ít-ra-en đui mù hết, chẳng hiểu biết gì ; cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng, nằm dài và thích ngủ thôi.
Vietnamese 2002 (NVB) (Kinh Thánh Bản Dịch Mới)
Những kẻ canh gác của Y-sơ-ra-ên, tất cả đều đui mù,Không biết gì cả.Chúng nó hết thảy đều như chó câm,Không biết sủa;Chỉ mơ mộng,Nằm khểnh và thích ngủ.
Vietnamese 2010 (VIE) (Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010)
Tất cả những kẻ canh giữ của Y-sơ-ra-ên Đều đui mù, không biết gì cả. Tất cả chúng đều là chó câm, Không biết sủa; Chỉ mộng mơ, nằm dài Và ham ngủ.
Vietnamese Contemporary 2015 (Kinh Thánh Hiện Đại)
Vì các lãnh đạo của dân Ta— người canh giữ của Chúa Hằng Hữu, người chăn chiên của Ngài— là mù quáng và không biết gì hết. Chúng như chó câm không biết sủa, không cảnh báo khi nguy hiểm đến gần. Chúng chỉ thích nằm dài, ngủ và mơ mộng.
Vietnamese ERV (Thánh Kinh: Bản Phổ thông)
Các lính canh bị mù loà; chúng không biết mình đang làm gì. Tất cả đều như chó câm không biết sủa. Chúng nằm xuống và chiêm bao, chỉ thích ngủ thôi.