Zechariah 11:7 — Compare Translations
7 translations compared side by side
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt 1925)
Vậy ta cho những chiên sắp giết ăn cỏ, là những chiên rất khốn nạn trong bầy. Ðoạn, ta lấy hai cây gậy: một cây gọi là Tốt đẹp, một cây gọi là Dây buộc; và ta cho bầy chiên ăn.
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
Vậy tôi chăn dắt đàn chiên sắp bị đem đi làm thịt và đặc biệt quan tâm đến những con khốn khổ trong bầy. Tôi lấy cho tôi hai cây gậy để chăn bầy. Tôi đặt tên cho một gậy là Tốt Đẹp và gậy kia là Ràng Buộc, rồi tôi chăn dắt đàn chiên.
Vietnamese 1994 (Lời Chúa Cho Mọi Người) (Translated by 1 Pastor)
Thế là tôi trở thành người chăn dắt bầy chiên mà bọn lái buôn chiên dê tính đem làm thịt. Tôi lấy hai cây gậy, một cây gọi là Ân huệ, cây kia là Liên kết, và tôi đã chăn dắt bầy chiên.
Vietnamese 2002 (NVB) (Kinh Thánh Bản Dịch Mới)
Vậy tôi chăn bầy chiên mà những kẻ buôn bán chiên định đem làm thịt. Tôi chọn hai cây gậy, một cây tôi gọi là “Vui thỏa,” và cây kia là “Liên kết,” rồi tôi chăn bầy.
Vietnamese 2010 (VIE) (Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010)
Vậy, Ta chăn bầy chiên sắp bị làm thịt, là bầy chiên rất khốn khổ. Ta dùng hai cây gậy: một cây gọi là Ân Huệ, một cây gọi là Hợp Nhất để chăn bầy chiên.
Vietnamese Contemporary 2015 (Kinh Thánh Hiện Đại)
Như thế, tôi đi chăn bầy chiên đã ấn định cho lò sát sinh. Tôi dùng hai cây gậy, đặt tên cây này là Thanh Lịch, cây kia là Liên Hiệp.
Vietnamese ERV (Thánh Kinh: Bản Phổ thông)
Cho nên ta nuôi đàn chiên sắp bị giết, đặc biệt là các con ốm yếu nhất. Rồi ta lấy hai cây gậy; một cây ta đặt tên là Ân huệ, cây kia tên Đoàn kết, rồi ta nuôi đàn chiên ta.