bible
ra
🌐 Language
English
Español
Français
Deutsch
Português
Italiano
Nederlands
Русский
中文
日本語
한국어
العربية
Türkçe
Tiếng Việt
ไทย
Indonesia
All Languages
Home
/
Vietnamese
/
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
/
Isaiah 42
Isaiah 42
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
← Chapter 41
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 37
Chapter 38
Chapter 39
Chapter 40
Chapter 41
Chapter 42
Chapter 43
Chapter 44
Chapter 45
Chapter 46
Chapter 47
Chapter 48
Chapter 49
Chapter 50
Chapter 51
Chapter 52
Chapter 53
Chapter 54
Chapter 55
Chapter 56
Chapter 57
Chapter 58
Chapter 59
Chapter 60
Chapter 61
Chapter 62
Chapter 63
Chapter 64
Chapter 65
Chapter 66
Chapter 43 →
1
Đây là đầy tớ Ta, người Ta nâng đỡ, Người Ta tuyển chọn, và linh hồn Ta hài lòng; Ta đã đặt Thần Ta trong người; Người sẽ đem công lý đến muôn dân.
2
Người sẽ không la lối hay lớn tiếng; Ở ngoài đường không ai nghe tiếng người.
3
Người sẽ không bẻ gãy cây sậy giập nát; Người sẽ không dập tắt tim đèn gần tàn. Người sẽ thực thi công lý cách trung tín.
4
Người sẽ không thối chí và ngã lòng, Cho đến khi người thiết lập xong nền công lý trên thế giới; Các dân ở hải ngoại đều trông mong luật pháp của người.
5
CHÚA Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên các tầng trời và căng chúng ra, Đấng trải rộng mặt đất và khiến mọi thảo mộc từ dưới đất mọc lên, Đấng ban hơi thở cho mọi người trên đất, Và ban tâm linh cho những kẻ bước đi trên đất, phán:
6
Ta là CHÚA, Ta đã gọi ngươi để bày tỏ đức công chính của Ta; Ta sẽ nắm tay ngươi; Ta sẽ gìn giữ ngươi và lập ngươi làm giao ước với loài người, Làm ánh sáng cho muôn dân,
7
Để mở mắt cho người mù, Để giải phóng kẻ bị tù ra khỏi ngục thất, Cho những kẻ ngồi trong ngục tối được hưởng tự do.
8
Ta là CHÚA, đó là danh Ta; Ta sẽ không nhường vinh hiển Ta cho ai; Ta không nhường những lời ca tụng Ta cho các thần tượng vô tri.
9
Này, những chuyện cũ đã qua rồi, Bây giờ Ta công bố những điều mới; Trước khi chúng xảy ra, Ta báo về chúng cho các ngươi biết.
10
Hãy ca ngợi CHÚA một bài ca mới, Từ những nơi tận cùng trái đất hãy cất lên lời chúc tụng Ngài. Hỡi các ngươi là những kẻ sống ngành hàng hải, cùng mọi loài ở trong các đại dương, Hỡi những xứ ở hải ngoại và dân cư của chúng,
11
Hỡi các đồng hoang và các thị thành, hãy trỗi tiếng tôn vinh. Hỡi các khu lều trại nơi dân du mục Kê-đa cư ngụ, Hãy dâng lời ca cùng các cư dân miền núi đá Sê-la; Hãy để họ vang tiếng reo mừng từ đỉnh cao các núi.
12
Hãy để họ tự do dâng vinh hiển lên CHÚA, Và truyền ra lời ca ngợi Ngài đến tận các miền hải ngoại xa xăm.
13
CHÚA xông ra như một anh hùng ra trận; Hùng khí của Ngài bừng bừng như một dũng sĩ ở chiến trường. Ngài thét lên một tiếng, phải, Ngài thét lên một tiếng lớn, Ngài chiến thắng những kẻ thù của Ngài.
14
Đã từ lâu Ta giữ mình im lặng; Ta làm thinh và tự dằn lấy lòng mình; Nhưng bây giờ Ta sẽ rên la như sản phụ lâm bồn; Ta sẽ thở hổn hển và gấp rút hớp hơi từng ngụm một;
15
Ta sẽ biến các núi và các đồi ra hoang phế; Mọi cỏ cây của chúng Ta sẽ khiến phải chết khô; Ta sẽ biến các sông ngòi trở thành các hoang đảo; Các hồ ao sẽ thành những chỗ khô cằn.
16
Ta sẽ dắt người mù Vào con đường chúng chưa hề biết; Ta sẽ dẫn chúng đi Trong những lối chúng chưa tường. Ta sẽ biến bóng tối trước mặt chúng trở thành ánh sáng; Những đường ngoằn ngoèo sẽ trở nên những đại lộ thẳng bằng. Những điều ấy Ta sẽ đem ra thực hiện, Ta sẽ không bỏ sót một điều nào.
17
Còn những kẻ tin cậy vào các tượng chạm, Những kẻ nói với các tượng đúc rằng, “Các ngài là những vị thần của chúng tôi,” Chúng sẽ phải thối lui, chúng sẽ bị nhục nhã ê chề.
18
Hãy nghe rõ, hỡi những kẻ điếc, Hãy nhìn xem, hỡi những kẻ mù, để các ngươi trông thấy rõ ràng.
19
Ai bị mù, nếu chẳng phải là tôi tớ Ta? Hoặc ai bị điếc, nếu không phải là sứ giả Ta sai đến? Ai mù như người tận hiến cho Ta? Và ai bị đui như đầy tớ CHÚA?
20
Ngươi đã nhìn xem nhiều, nhưng mắt ngươi chẳng thấy, Ngươi đã mở tai ra, nhưng tai ngươi vẫn chưa nghe.
21
Vì đức công chính của Ngài, CHÚA lấy làm hài lòng khiến luật pháp Ngài được tán dương và tôn vinh.
22
Nhưng dân này đã bị cướp đoạt và bị bóc lột; Họ thảy đều sa vào hố sâu; Họ bị nhốt kín trong các ngục thất; Họ trở thành những miếng mồi không ai giải cứu; Khi họ bị bóc lột, chẳng ai lên tiếng, bảo rằng, “Hãy trả lại cho người ta!”
23
Ai trong các ngươi muốn để tai nghe điều ấy? Trong tương lai ai sẽ để ý lắng nghe?
24
Ai đã phó Gia-cốp cho người ta bóc lột? Ai đã trao I-sơ-ra-ên cho những kẻ cướp đoạt nó? Há chẳng phải là CHÚA, Đấng chúng ta đã phạm tội chống lại sao? Vì họ đã không đi theo đường lối Ngài, Họ cũng không vâng theo luật pháp Ngài.
25
Vì thế Ngài đã trút trên nó cơn thịnh nộ của Ngài, Ngài đã phó nó cho sức tàn phá của chiến tranh. Lửa cháy xung quanh nó ngút ngàn, nhưng nó chẳng màng; Lửa thiêu đốt nó, nhưng nó chẳng quan tâm gì cả.
← Chapter 41
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 37
Chapter 38
Chapter 39
Chapter 40
Chapter 41
Chapter 42
Chapter 43
Chapter 44
Chapter 45
Chapter 46
Chapter 47
Chapter 48
Chapter 49
Chapter 50
Chapter 51
Chapter 52
Chapter 53
Chapter 54
Chapter 55
Chapter 56
Chapter 57
Chapter 58
Chapter 59
Chapter 60
Chapter 61
Chapter 62
Chapter 63
Chapter 64
Chapter 65
Chapter 66
Chapter 43 →
All chapters:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66