bible
ra
🌐 Language
English
Español
Français
Deutsch
Português
Italiano
Nederlands
Русский
中文
日本語
한국어
العربية
Türkçe
Tiếng Việt
ไทย
Indonesia
All Languages
Home
/
Vietnamese
/
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
/
Jeremiah 10
Jeremiah 10
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
← Chapter 9
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 37
Chapter 38
Chapter 39
Chapter 40
Chapter 41
Chapter 42
Chapter 43
Chapter 44
Chapter 45
Chapter 46
Chapter 47
Chapter 48
Chapter 49
Chapter 50
Chapter 51
Chapter 52
Chapter 11 →
1
Hỡi nhà I-sơ-ra-ên, hãy nghe những lời của CHÚA phán với ngươi.
2
CHÚA phán thế này: “Đừng học theo thói của các dân ngoại; Chớ kinh hãi khi thấy các điềm lạ trên trời, Vì các dân ngoại sợ hãi khi thấy các điềm ấy.
3
Các thói tục của các dân chỉ là hư không: Người ta chặt một cây trên rừng; Thợ tạc tượng dùng rìu đục đẽo thành một hình dạng,
4
Người ta lấy bạc và vàng khảm vào cho đẹp, Xong lấy búa và đinh đóng vào Để nó khỏi ngã nhào.
5
Các thần tượng của chúng thật như các hình nộm trong một ruộng dưa; Chúng chẳng nói được; Chúng phải được khiêng đi, Vì chúng không thể tự đi được. Chớ sợ chúng, Vì chúng không thể hại ai, Và chúng cũng chẳng làm ích lợi gì cho ai.”
6
Lạy CHÚA, thật không ai giống như Ngài; Ngài là Đấng lớn lao vĩ đại; danh Ngài thật cao cả và quyền năng.
7
Lạy Vua của các nước, ai dám cả gan không kính sợ Ngài? Vì kính sợ Ngài là bổn phận đương nhiên của các dân các nước; Vì trong tất cả những người khôn ngoan của các dân, Và trong tất cả các nước của họ, Chẳng có ai giống như Ngài.
8
Các dân ấy thật là đần độn và dại dột; Một khúc gỗ tạc thành hình mà có thể dạy dỗ được sao!
9
Bạc dát mỏng từ Tạt-si đem về, Vàng lấy từ U-pha mang về. Chúng chỉ là tác phẩm của nghệ nhân, và sản phẩm của bàn tay người thợ bạc; Y phục các tượng ấy làm bằng vải xanh dương và tím đỏ; Chúng thảy là sản phẩm của các thợ khéo tay.
10
Còn CHÚA là Đức Chúa Trời thực hữu; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống và Vua đời đời. Ngài nổi giận đất liền rúng động, Các quốc gia không thể chịu nổi cơn thịnh nộ của Ngài.
11
Các ngươi hãy nói với thiên hạ như thế này, “Các thần không dựng nên trời và đất sẽ bị diệt mất khỏi mặt đất và khỏi dưới gầm trời.”
12
Nhưng Chúa là Đấng đã dựng nên trái đất bằng quyền năng Ngài, Đấng đã tạo lập thế gian bằng sự khôn ngoan Ngài, Và Đấng đã giăng các tầng trời ra bằng sự thông sáng Ngài.
13
Khi Ngài lên tiếng, nước trên trời đổ tuôn ào ạt, Ngài khiến hơi nước bốc lên làm mây giăng khắp mặt địa cầu, Ngài khiến sấm sét theo mưa nổ chớp; Ngài mang gió ra từ các kho lẫm của Ngài.
14
Những ai thờ hình tượng quả là ngu dại và chẳng hiểu biết; Các thợ bạc khá hổ thẹn vì các hình tượng do chúng tạo ra, Vì các hình tượng ấy chỉ là đồ giả tạo, Chẳng hình tượng nào có hơi thở bên trong.
15
Chúng chỉ là những đồ vô dụng, một thứ sản phẩm chẳng có ích lợi gì; Đến thời chúng bị phạt, chúng sẽ bị diệt vong.
16
Còn phần dành cho Gia-cốp không như những thứ đó, Vì Ngài là Đấng đã dựng nên mọi loài mọi vật, Và I-sơ-ra-ên là chi tộc của cơ nghiệp Ngài; Danh Ngài là CHÚA các đạo quân.
17
Hỡi dân cư của thành bị vây hãm! Hãy xách lên những gói đồ của ngươi đang nằm dưới đất;
18
Vì CHÚA phán thế này, “Này, lần này Ta sẽ quăng dân cư trong xứ này ra xa, Ta sẽ khiến chúng gặp cảnh cùng đường Để chúng sớm nhận ra.”
19
Khốn cho tôi vì vết thương của tôi nhức nhối! Vết thương của tôi trầm trọng khó được chữa lành. Nhưng tôi nói, “Đây là hình phạt cho mình, Nên mình phải gánh chịu.”
20
Trại của tôi đã bị phá hủy, Các dây căng trại đã bị cắt đứt, Con cái tôi đều đã bỏ đi, Chẳng còn đứa nào ở lại, Chẳng còn đứa nào giúp tôi dựng lại lều của tôi, Không còn ai giúp căng các màn trại của tôi lên.
21
Vì những kẻ chăn chiên đã trở nên vô cảm, Chúng không tìm kiếm CHÚA, Nên chúng chẳng thành công, Và tất cả các đàn chiên của chúng bị tan lạc khắp nơi.
22
Này, tin giặc đến đổ về dồn dập, Tiếng đồn gây chấn động từ đất bắc truyền về, Giặc sẽ đến, biến các thành của Giu-đa ra hoang vắng, Biến chúng nên sào huyệt của sói lang.
23
Ôi lạy CHÚA, con biết đường mỗi người chẳng do họ định đoạt, Không ai có thể sắp đặt mọi bước chân mình.
24
Ôi lạy CHÚA, xin sửa dạy con bằng công lý, Nhưng xin đừng dùng cơn giận của Ngài, kẻo Ngài sẽ làm con bị biến mất chăng!
25
Xin trút cơn giận của Ngài trên các dân không nhìn biết Ngài, Trên những dân không kêu cầu danh Ngài, Vì chúng đã ăn nuốt Gia-cốp, Chúng đã nuốt mất ông ấy Và phá tan tành chỗ ở của ông ấy.
← Chapter 9
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 37
Chapter 38
Chapter 39
Chapter 40
Chapter 41
Chapter 42
Chapter 43
Chapter 44
Chapter 45
Chapter 46
Chapter 47
Chapter 48
Chapter 49
Chapter 50
Chapter 51
Chapter 52
Chapter 11 →
All chapters:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52