bible
ra
🌐 Language
English
Español
Français
Deutsch
Português
Italiano
Nederlands
Русский
中文
日本語
한국어
العربية
Türkçe
Tiếng Việt
ไทย
Indonesia
All Languages
Home
/
Vietnamese
/
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
/
Numbers 10
Numbers 10
Vietnamese (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)
← Chapter 9
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 11 →
1
CHÚA phán với Môi-se rằng,
2
“Hãy làm hai chiếc kèn bằng bạc, hãy lấy bạc dát mỏng mà làm, để dùng triệu tập hội chúng hoặc ban lệnh cho hội chúng nhổ trại ra đi.
3
Khi cả hai chiếc kèn được thổi lên, toàn thể hội chúng sẽ tập họp lại bên ngươi ở cửa Lều Hội Kiến.
4
Nhưng khi chỉ một chiếc kèn được thổi, thì chỉ những người lãnh đạo, tức những thủ lãnh của mỗi chi tộc I-sơ-ra-ên, sẽ tập họp lại bên ngươi.
5
Khi ngươi thổi điệu kèn xuất hành lần thứ nhất, các trại ở phía đông sẽ nhổ trại ra đi.
6
Khi ngươi thổi điệu kèn xuất hành lần thứ nhì, các trại ở phía nam sẽ nhổ trại ra đi. Chúng sẽ nhổ trại ra đi theo mỗi đợt kèn hiệu lệnh xuất hành được thổi.
7
Khi ngươi muốn hội chúng tập họp, hãy thổi kèn để triệu tập, nhưng không thổi điệu kèn xuất hành.
8
Các con trai của A-rôn, tức các tư tế, sẽ chịu trách nhiệm thổi kèn. Đây là một quy luật vĩnh viễn trải qua mọi thế hệ của các ngươi.
9
Khi các ngươi xuất quân ra trận đối phó với quân thù xâm lăng xứ sở các ngươi, các ngươi sẽ thổi điệu kèn xuất quân; bấy giờ các ngươi sẽ được nhớ đến trước mặt CHÚA, Đức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ được giải cứu khỏi quân thù.
10
Trong những ngày các ngươi vui mừng, vào những ngày lễ trọng thể, và vào những ngày đầu tháng, các ngươi sẽ thổi kèn khi dâng của lễ thiêu và khi dâng của lễ cầu an; những tiếng kèn ấy sẽ làm cho các ngươi được nhớ đến trước mặt CHÚA, Đức Chúa Trời của các ngươi. Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời của các ngươi.”
11
Vào ngày hai mươi, tháng hai, năm thứ hai, đám mây cất lên khỏi Đền Tạm của Chứng Ước.
12
Dân I-sơ-ra-ên tuần tự nhổ trại ra đi, rời khỏi Đồng Hoang Si-nai. Đám mây đến Đồng Hoang Pa-ran thì dừng lại.
13
Lần đầu tiên họ nhổ trại ra đi theo lệnh CHÚA truyền qua Môi-se.
14
Cờ của trại quân Giu-đa ra đi trước, từng đơn vị lần lượt lên đường, dưới sự chỉ huy của Nát-sôn con trai Am-mi-na-đáp,
15
kế đến là đoàn quân của chi tộc I-sa-ca, dưới sự chỉ huy của Nê-tha-nên con trai Xu-a,
16
tiếp theo là đoàn quân của chi tộc Xê-bu-lun, dưới sự chỉ huy của Ê-li-áp con trai Hê-lôn.
17
Bấy giờ Đền Tạm đã được dỡ xuống. Các con cháu Ghẹt-sôn và các con cháu Mê-ra-ri mang Đền Tạm ra đi.
18
Sau đó cờ của trại quân Ru-bên ra đi, từng đơn vị lần lượt lên đường, dưới sự chỉ huy của Ê-li-xu con trai Sê-đê-ua,
19
kế đến là đoàn quân của chi tộc Si-mê-ôn, dưới sự chỉ huy của Sê-lu-mi-ên con trai Xu-ri-sa-đai,
20
tiếp theo là đoàn quân của chi tộc Gát, dưới sự chỉ huy của Ê-li-a-sáp con trai Đê-u-ên.
21
Bấy giờ các con cháu Kê-hát, những người mang các vật thánh, ra đi; và Đền Tạm phải được dựng lên trước khi họ đến nơi.
22
Sau đó cờ của trại quân Ép-ra-im ra đi, từng đơn vị lần lượt lên đường, dưới sự chỉ huy của Ê-li-sa-ma con trai Am-mi-hút,
23
kế đến là đoàn quân của chi tộc Ma-na-se, dưới sự chỉ huy của Ga-ma-li-ên con trai Pê-đa-xu,
24
tiếp theo là đoàn quân của chi tộc Bên-gia-min, dưới sự chỉ huy của A-bi-đan con trai Ghi-đê-ô-ni.
25
Sau đó cờ của trại quân Đan, làm hậu quân cho tất cả trại quân khác, ra đi, từng đơn vị lần lượt lên đường, dưới sự chỉ huy của A-hi-ê-xe con trai Am-mi-sa-đai,
26
kế đến là đoàn quân của chi tộc A-se, dưới sự chỉ huy của Pa-ghi-ên con trai Ốc-ran,
27
tiếp theo là đoàn quân của chi tộc Náp-ta-li, dưới sự chỉ huy của A-hi-ra con trai Ê-nan.
28
Đó là thứ tự của các trại quân I-sơ-ra-ên mỗi khi họ nhổ trại ra đi, từng đơn vị lần lượt lên đường.
29
Môi-se nói với Hô-báp con trai Rê-u-ên người Mi-đi-an (Rê-u-ên là nhạc phụ của Môi-se), “Chúng tôi đi đến xứ mà CHÚA phán rằng, ‘Ta sẽ ban nó cho các ngươi,’ xin anh đi với chúng tôi, chúng tôi sẽ đối xử tử tế với anh, vì CHÚA hứa sẽ ban phước cho dân I-sơ-ra-ên.”
30
Nhưng ông ấy đáp với Môi-se, “Tôi không đi đâu. Tôi sẽ về quê hương tôi và sống với bà con tôi.”
31
Môi-se nói, “Xin anh đừng rời bỏ chúng tôi, vì anh biết nơi nào trong đồng hoang này chúng tôi có thể đóng trại được, và anh sẽ như cặp mắt của chúng tôi.
32
Ngoài ra nếu anh đi với chúng tôi, những phước hạnh nào CHÚA ban cho chúng tôi, chúng tôi sẽ chia sẻ với anh.”
33
Vậy họ nhổ trại rời khỏi núi của CHÚA ra đi được ba ngày đường; Rương Giao Ước của CHÚA luôn đi trước họ trong ba ngày đường đó để chọn nơi nào cho họ nghỉ.
34
Khi họ nhổ trại ra đi, mây của CHÚA luôn che mát trên đầu họ.
35
Mỗi khi Rương Thánh ra đi Môi-se nói, “Lạy CHÚA, xin trỗi dậy, xin làm cho quân thù của Ngài chạy tán loạn, xin khiến những kẻ chống nghịch Ngài chạy trốn trước mặt Ngài.”
36
Mỗi khi Rương Thánh dừng lại nghỉ ông nói, “Lạy CHÚA, xin trở lại, xin Ngài ngự giữa muôn ngàn con dân I-sơ-ra-ên.”
← Chapter 9
Jump to:
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
Chapter 24
Chapter 25
Chapter 26
Chapter 27
Chapter 28
Chapter 29
Chapter 30
Chapter 31
Chapter 32
Chapter 33
Chapter 34
Chapter 35
Chapter 36
Chapter 11 →
All chapters:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36